Nhà băng Nông nghiệp và Tăng trưởng Nông thôn Việt Nam (Agribank)

Nhà băng Nông nghiệp và Tăng trưởng Nông thôn Việt Nam (Agribank) là nhà băng thương mại lớn nhất Việt Nam tính theo tổng khối lượng tài sản, thuộc loại công ty nhà nước hạng đặc biệt.

1. Giới thiệu chung về Agribank

  • Tổ chức: Nhà băng Nông nghiệp và Tăng trưởng Nông thôn Việt Nam (Agribank)
  • Xây dựng thương hiệu: 1988
  • Trụ sở: Quận Bố Đình, Hà Nội, Việt Nam
  • Lĩnh vực: Nhà băng
  • Website: http://www.agribank.com.vn/
  • Tìm hiểu thêm những doanh nghiệp và nhãn hiệu khác tại đây: Network | Brade Mar
Logo của Agribank
Logo của Agribank

Nhà băng Nông nghiệp và Tăng trưởng Nông thôn Việt Nam (Vietnam Bank for Agronomie and Laboureur Development) viết tắt Agribank, là nhà băng thương mại lớn nhất Việt Nam tính theo tổng khối lượng tài sản, thuộc loại công ty nhà nước hạng đặc biệt. Theo báo cáo của Chương trình Tăng trưởng Liên Hợp Quốc (UNDP) 5 2007, Agribank cũng là công ty lớn nhất Việt Nam.

Agribank được xây dựng thương hiệu ngày 26 tháng 3 5 1988. Lúc new xây dựng thương hiệu, nhà băng mang trong mình tên là Nhà băng Tăng trưởng Nông nghiệp Việt Nam. Cuối 5 1990, nhà băng được đổi tên thành Nhà băng Nông nghiệp Việt Nam. Cuối 5 1996 nhà băng lại được đổi tên thành tên gọi như hiện nay.

5 2003, Chủ tịch nước Việt Nam đã trao tặng Nhà băng Nông nghiệp và Tăng trưởng Nông thôn danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ Đổi new.

BIDV là một trong bốn ngân hàng thương mại, thường được gọi là Bộ Tứ (Big 4)
Agribank là 1 trong 4 nhà băng thương mại lớn của Việt Nam, thường được gọi là Bộ Tứ (Big 4)

2. Quy mô của Agribank

Agribank là nhà băng lớn nhất Việt Nam cả về vốn, tài sản, đội ngũ cán bộ viên chức, mạng lưới hoạt động và số lượng khách hàng. Tới tháng 3/2007, vị thế dẫn đầu của Agribank vẫn được khẳng định trên nhiều phương diện: Tổng nguồn vốn đạt sắp 26.700 tỷ đồng, vốn tự động có sắp 15.000 tỷ đồng; Tổng dư nợ đạt sắp 23.900 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu theo chuẩn mực new, yêu thích mang tiêu chuẩn quốc tế là 1,9%. 5 2007, Agribank có hơn 2200 chi nhánh và điểm thanh toán được bố trí rộng khắp trên toàn quốc mang sắp 30.000 cán bộ viên chức.

5 2017, tổng tài sản của Agribank vượt Một triệu tỷ đồng.

5 2019, tổng tài sản của nhà băng đạt 1,4 triệu tỷ đồng; nguồn vốn huy động đạt 1,29 triệu tỷ đồng; dư nợ cho vay nền kinh tế đạt hơn 1,05 triệu tỷ. Như vậy, Agribank là nhà băng đứng thứ 2 (sau BIDV) về tổng tài sản trong toàn hệ thống nhà băng. Lợi nhuận 10 tháng đầu 5 2019 của Agribank đạt trên 10.350 tỷ đồng, vượt 35% kế hoạch 10.000 tỷ đồng đề ra cho cả 5 2019.

5 2020, Agribank là nhà băng thương mại nhà nước hàng đầu Việt Nam cả về vốn điều lệ, tổng tài sản, quy mô mạng lưới, đội ngũ cán bộ công viên chức và số lượng khách hàng mang sắp 40.000 cán bộ viên chức; 2.300 chi nhánh và phòng thanh toán trong toàn hệ thống. Tổng tài sản của Agribank đạt trên 1,57 triệu tỷ đồng, vượt qua BIDV để đứng thứ 1 trong số những nhà băng tại Việt Nam. Nguồn vốn đạt trên 1,45 triệu tỷ đồng. Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt trên 1,21 triệu tỷ đồng; tỷ trọng dư nợ nông nghiệp – nông thôn chiếm xấp xỉ 70% dư nợ cho vay. Agribank đã thiết lập quan hệ mang sắp 900 nhà băng tại 90 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Là nhà băng 100% vốn Nhà nước mang dư nợ cho vay nông nghiệp – nông thôn chiếm xấp xỉ 70% tổng dư nợ và là nhà băng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong việc cấp tín dụng “Tam nông” tại Việt Nam, Agribank là đơn vị tiên phong, chủ lực để Chính phủ Việt Nam triển khai 07 chương trình tín dụng chính sách và 02 chương trình phần tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn new và giảm nghèo bền vững.

Agribank đã được trao tặng nhiều danh hiệu như: Anh hùng Lao động thời kỳ đổi new, Huân chương Lao động, Sao Vàng đất Việt, Công ty tăng trưởng bền vững; Công ty có thành tích xuất sắc chuyên dụng cho tăng trưởng kinh tế nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong thời kỳ đổi new; Công ty thực hành phải chăng trách nhiệm xã hội và tăng trưởng cùng đồng; Top 10 Công ty lớn nhất Việt Nam VNR500; Top 3 Công ty nộp thuế thu nhập công ty lớn nhất Việt Nam; Top 50 Công ty xuất sắc nhất Việt Nam; Nhà băng tiêu biểu về tương trợ đầu tư nông nghiệp khoa học cao, Nhà băng tiêu biểu vì cùng đồng.

Agribank là ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam tính theo tổng khối lượng tài sản, thuộc loại doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt
Agribank là nhà băng thương mại lớn nhất Việt Nam tính theo tổng khối lượng tài sản, thuộc loại công ty nhà nước hạng đặc biệt

3. Lịch sử của Agribank

1988:

  • 26 tháng 3: Nhà băng Tăng trưởng Nông nghiệp Việt Nam ra đời theo Nghị định số 53/NĐ-HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), và chính thức đi vào hoạt động ngày 01/07/1988 trên phạm vi cả nước.
  • 6 tháng 10: Tổng Giám đốc (nay là Thống đốc) NHNN đã ra Quyết định số 104/NH-QĐ cho phép Nhà băng Tăng trưởng Nông nghiệp Việt Nam (NHPTNo) xây dựng thương hiệu chi nhánh Nhà băng Tăng trưởng Nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Colossal. Giám đốc chi nhánh là ông Lê Chí Thành (Phó Tổng Giám đốc thứ 1 NHPTNo) kiêm nhiệm. Nhà băng Tăng trưởng Nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Colossal hoạt động theo nguyên tắc hạch toán độc lập, tự động huy động, tự động cho vay để tăng trưởng chế tạo nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Colossal.

1989:

  • Một tháng 5: NHNN đã ra quyết định xây dựng thương hiệu Chi nhánh Nhà băng chuyên dụng cho lương hiện tại thành phố Hồ Chí Minh do ông Nguyễn Thanh Châu làm cho Giám đốc chi nhánh.
  • Từ giữa 5 1989: NHPTNo Việt Nam thực hiện thí điểm cho vay tới hộ nông dân tại một số chi nhánh của ở các tỉnh như Hà Bắc, An Giang, Cửu Colossal, Colossal An và huyện Bình Chánh tại thành phố Hồ Chí Minh. Việc thí điểm đạt kết quả phải chăng, nhà băng thu được cả gốc lẫn lãi đúng kỳ hạn, nông dân siêu phấn khởi.

1990:

  • 24 tháng 5: Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cùng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã công bố Sắc lệnh số 37-NTC/HĐNN ban hành Pháp lệnh Nhà băng nhà nước Việt Nam và Sắc lệnh số 38-NCT/HĐNN ban hành Pháp lệnh nhà băng, hợp tác xã tín dụng và doanh nghiệp tài chính, nhằm tổ chức lại và đưa hệ thống Nhà băng vào hoạt động yêu thích mang đề nghị của chế tạo hàng hóa, đảm bảo tăng trưởng nền tiền tệ 1 phương pháp an toàn, điều hòa việc dùng tiền tệ có hiệu quả, liên quan kinh tế thị trường tăng trưởng năng động, trật tự động.
  • 14 tháng 11: Quyết định số 400/CTcủa Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc Xây dựng thương hiệu Nhà băng Nông nghiệp Việt Nam đã đổi tên Nhà băng Tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam thành Nhà băng Nông nghiệp Việt Nam.
  • Tháng 12: Chính phủ Việt Nam và Cùng đồng châu Âu (EC) đã ký Hiệp định về dự án Tài trợ của EC “Chương trình hồi hương và tái hòa nhập” bao gồm 6 Chương trình: Y tế, Huấn luyện (nghề nghiệp), Công ty bé, Dự án, Thông tin tuyên truyền, Tín dụng, trong ấy Tín dụng là chương trình quan yếu với số vốn nhiều nhất. Sau lúc khảo sát nhiều nhà băng thương mại, EC quyết định chọn NHNNVN là nhà băng trước tiên thực hành dự án.
Chính phủ Việt Nam và Cộng đồng châu Âu (EC) đã ký Hiệp định về dự án Tài trợ của EC “Chương trình hồi hương và tái hòa nhập”
Chính phủ Việt Nam và Cùng đồng châu Âu (EC) đã ký Hiệp định về dự án Tài trợ của EC “Chương trình hồi hương và tái hòa nhập”

1991:

  • Đầu 5 1991: Hội nghị Ban điều hành Hiệp hội tín dụng Nông nghiệp Nông thôn khu vực châu Á-Thái Bình Dương (APRACA) tại Bắc Kinh đã công nhận NHNo Việt Nam là hội viên.
  • 18 tháng 1: Tổng Giám đốc NHNo Việt Nam đã ban hành văn bản số 45/KH-NHNo về Chỉ dẫn lập và quản lý kế hoạch marketing trong hệ thống NHNNVN; Văn bản số 53/NHNg về “Biện pháp cho vay ngắn hạn, trung hạn đối mang hộ nông dân”.
  • Một tháng 3: Văn phòng Đại diện NHNo Việt Nam trên miền Nam được xây dựng thương hiệu tại thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định số 18/NH-QĐ của Thống đốc NHNN, và Văn phòng Đại diện NHNo Việt Nam trên miền Trung được xây dựng thương hiệu tại thành phố Quy Nhơn (thuộc tỉnh Bình Định) theo văn bản số 439/CV-TCCB của Thống đốc Nhà băng Nhà nước.
  • 23 tháng 7: Tổng Giám đốc NHNo Việt Nam đã ban hành văn bản 499/NHNo về việc cho vay hộ nông dân.
  • Một tháng 9: NHNo Việt Nam ban hành Văn bản số 946/NHNo về chế độ khoán tài chính.
  • Tháng 10: NHNo Việt Nam chính thức gia nhập APRACA

1992:

  • 24 tháng 6: NHNo Việt Nam ban hành Văn bản số 495/NHNo-KH về Quy chế xây dựng, tổ chức thực hành kế hoạch tín dụng tổng hợp trong hệ thống NHNN Việt Nam.
  • Tháng 10: Xây dựng thương hiệu Sở Thanh toán đối ngoại (tức Sở Buôn bán hối đoái sau này).
  • 10 tháng 12: NHNo Việt Nam thí điểm thực hành chuyển tiền qua mạng tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh mang 5 đơn vị tham dự, tiến tới triển khai mở rộng.
  • 22 tháng 12: Thống đốc NHNN ra Quyết định số 603/NH-QĐ về việc xây dựng thương hiệu những chi nhánh của NHNo trên những tỉnh, thành phố gồm 3 Sở Thanh toán (Sở Thanh toán I tại Hà Nội, Sở Thanh toán II tại thành phố Hồ Chí Minh và Sở Thanh toán III tại Đà Nẵng), 43 chi nhánh tại tỉnh, thành phố, và 475 chi nhánh quận, huyện, thị xã.
  • Cuối 5 1992: NHNo Việt Nam thực hành sắp xếp lại tổ chức bộ máy theo Điều lệ NHNo Việt Nam ban hành theo Quyết định số 250/QĐ-NH5 ngày 11/11/1992 của Thống đốc Nhà băng Nhà nước.

1993:

  • 12 tháng 2: NHNo đã ban hành văn bản số 152/NHNo-TT chỉ dẫn thực hành tính sổ qua mạng trong hệ thống.
  • 20 tháng 9: NHNo ban hành văn bản số 1234/NHNo-TT chỉ dẫn tính sổ tay cha giữa người đi vay, nhà băng, và người cung ứng dịch vụ (lúc cho hộ chế tạo vay vốn qua shop bán vật tư nông nghiệp).
  • 27 tháng 8: Tổng Giám đốc NHNo ban hành văn bản 495D/NHNo-KH quy định về xây dựng, tổ chức thực hành KHKD trong toàn hệ thống NHNNVN. Văn bản này thay đổi thế cho văn bản văn bản số 495/NHNo-KH.
  • 2 tháng 9: Tổng Giám đốc NHNo ban hành văn bản số 499A/NHNo-TDNT về biện pháp nghiệp vụ cho vay hộ chế tạo.
  • Từ 5 1993: NHNo đã nhận làm cho dịch vụ ủy thác đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thông qua những dự án tăng trưởng có vốn nước bên cạnh

1994:

  • Một tháng 1: Văn bản 946A đã được ban hành thay đổi thế văn bản 946 trước đây, và được gọi là Khoán 946A. Khoán 946A thực chất là khoán tiền lương trên kết quả thu chi của từng đơn vị, có chênh lệch thu chi càng cao thì quỹ tiền lương càng cao và ngược lại.
  • 30 tháng 7: Thống đốc NHNN ra Quyết định số 160/QĐ-NHN9 chấp thuận đổi new mô hình tổ chức quản lý của NHNo Việt Nam.
  • Từ tháng 8: Hình thành Khối kinh tế đối ngoại và Quản lý hối đoái (do ông Đỗ Tất Ngọc làm cho Giám đốc) có chức năng tham vấn và chỉ đạo những hoạt động quan hệ quốc tế, dự án nước bên cạnh và marketing đối ngoại. Sở Buôn bán hối đoái (do ông Nguyễn Gia Huân làm cho giám đốc) là đơn vị quản lý thực hành hoạt động marketing đối ngoại tại Trung tâm điều hành.
  • 20 tháng 9: NHNo ban hành văn bản số 1082/NHNo-Việt Nam quy định tổ chức mạng lưới và nghiệp vụ thu đổi ngoại tệ.
  • 4 tháng 10: NHNo ra văn bản số 1164/NHNO-TT chỉ dẫn những đơn vị chuẩn bị những điều kiện, mở rộng triển khai mở account cá nhân, khuyến khích tính sổ séc cá nhân.

1995:

  • Tháng 2: NHNo tham dự hệ thống tính sổ nhà băng quốc tế (SWIFT), đây là điều kiện tiện lợi cho NHNo Việt Nam mở rộng và nâng cao chất lượng tính sổ quốc tế.
  • Tháng 3: Quỹ Cho vay ưu đãi hộ nghèo được xây dựng thương hiệu theo quyết định của Thống đốc NHNN.
  • 24 tháng 3: Công bố Quyết định của Thống đốc NHNN về việc thiết lập Quỹ Cho vay ưu đãi hộ nghèo thiếu vốn chế tạo của NHNo.
  • 15 tháng 8: Khai trương Nhà băng Liên doanh VINASIAM – liên doanh giữa NHNo mang Nhà băng thương mại Siam và Tập đoàn CP (Thái Lan) mang số vốn điều lệ ban đầu của nhà băng này là 15.000.000 USD.
  • 31 tháng 8: Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 525/QĐ-TTg cho phép xây dựng thương hiệu Nhà băng chuyên dụng cho người nghèo.
  • Một tháng 9: Thống đốc NHNN Cao Sỹ Kiêm ký Quyết định số 230/QĐ-NH5 về việc xây dựng thương hiệu Nhà băng Chuyên dụng cho người nghèo.
Khai trương Ngân hàng Liên doanh VINASIAM
Khai trương Nhà băng Liên doanh VINASIAM

1996:

  • Một tháng 1: Nhà băng Chuyên dụng cho người nghèo chính thức đi vào hoạt động.
  • 23 tháng 1: Lễ trao tặng Huân chương Lao động cho NHNo tại Hà Nội.
  • 19 tháng 5: NHNo ra Quyết định 210/NHNo-QĐ cho triển khai toàn hệ thống hình thức Chi nhánh loại IV thay đổi cho tên gọi Nhà băng liên xã.
  • Tháng 6: NHNo đăng cai tổ chức Hội nghị lần thứ 34 Ban điều hành APRACA tại Hà Nội. Đây là dấu mốc quan yếu trong quan hệ đối ngoại nhằm đẩy mạnh sự hợp tác có hiệu quả của của NHNo mang APRACA.
  • 15 tháng 11: Quyết định số 280/QĐ-NHNN của NHNN đổi tên NHNo Việt Nam thành Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), hoạt động theo mô hình Tổng Tổ chức Nhà nước theo quy định tại Quyết định số 90/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ.
  • 20 tháng 12: Agribank thực hành thí điểm tính sổ xuất nhập khẩu, mậu dịch biên giới giữa 2 nhà băng – Nhà băng Nông nghiệp Hải Ninh (Quảng Ninh) và Nhà băng Nông nghiệp Đông Hưng (Quảng Tây, Trung Quốc) tại cửa khẩu quốc tế Móng Dòng.
  • 26 tháng 12: Công đoàn Agribank được thành lập theo Quyết định số 312/ToC-CĐNH của Chủ tịch Công đoàn Ngân hàng Việt Nam.

1997:

  • 27 tháng 8: Tổng Giám đốc Agribank ban hành văn chản số 1667/NHNo-06 quy định hộ sản xuất vay tối đa 5 triệu đồng ko phải thế chấp tài sản, chỉ cần kê danh mục tài sản làm đảm chảo trong đơn xin vay.
  • Tháng 11: Tổng Giám đốc Agribank ban hành văn chản 1022/NHNo-06 bổ sung đối tượng vay vốn đến 10 triệu đồng ko phải thế chấp tài sản gồm trồng cây dài ngày, chè, cà phê, cao su, điều, cây ăn quả có giá trị cao, kinh tế trang trại.

1998:

  • 14 tháng 7: Tổ chức Cho thuê tài chính I là đơn vị hoạch toán độc lập trực thuộc Agribank được thành lập theo Quyết định xây dựng thương hiệu số 238/QD-NHNN5 của Thống đốc NHNN.
  • Tháng 7: Tổ chức cho thuê Tài chính 2 (ALC2) là công ty nhà nước, đơn vị thành viên hạch toán độc lập của Agribank được xây dựng thương hiệu theo Quyết định số 239/1998/QĐ-NHNN5 của Thống đốc NHNN.

1999:

  • Tháng 4: Triển khai thực hành Quyết định 67/1999/ QĐ-TTg về 1 số chính sách tín dụng chuyên dụng cho tăng trưởng nông nghiệp nông thôn.
  • Tháng 10: Hệ thống máy ATM của Agribank được đưa vào hoạt động.
  • 23 tháng 10: Agribank có Nghị quyết liên tịch số 2308 mang Hội nông dân Việt Nam

2000:

  • Tháng 9: Hệ thống chuyển tiền điện tử ứng dụng khoa học tiên tiến đã được vận hành tại 9 chi nhánh gồm: Sở thanh toán, NHNo Hà Nội, Sở thanh toán I, NHNo Hà Tây, NHNo Láng Hạ, Sở thanh toán III (NHTP Đà Nẵng), Sở thanh toán II (NHNo Sài Gòn), NHNo Cần Thơ, NH 50 Bến Chương Dương.
  • 20 tháng 12: Tổ chức Cổ phần Chứng khoán Nhà băng Nông nghiệp (Agriseco), 1 trong những doanh nghiệp chứng khoán trước tiên hoạt động trên thị trường chứng khoán Việt Nam, được xây dựng thương hiệu theo Quyết định số 269/QĐ/HĐQT của Agribank.
  • Trong 5 2000: Ban Lãnh đạo Agribank đã xây dựng tầm nhìn và chiến lược tăng trưởng cho tới 5 2010 mang phương châm và triết lý marketing: “Mang trong mình phồn thịnh tới mang khách hàng”.
  • Cuối 5 2000: Agribank đã tăng trưởng được hơn 2.300 chi nhánh trên mọi miền đất nước.
Cuối năm 2000 Agribank đã phát triển được hơn 2.300 chi nhánh trên mọi miền đất nước
Cuối 5 2000 Agribank đã tăng trưởng được hơn 2.300 chi nhánh trên mọi miền đất nước

2001: Hội đồng Quản trị Agribank đã có quyết sách quan trọng thể hiện tại Quyết định số 80/QĐ-HĐQT-02, ban hành mô hình cơ cấu tổ chức và quản lý điều hành của Ngân hàng.

2002: Agribank thực hiện đầy đủ hệ thống kế toán theo tiêu chuẩn quốc tế.

2003:

  • 24 tháng 3: Tổng Tổ chức Vàng Agribank Việt Nam – CTCP (VIET NAM AGRIBANK GOLD CORPORATION JSC. – AJC) được thành lập theo Quyết định số 44/QĐ/HĐQT-TCCB.
  • 16 tháng 6: Quyết định số 596/NHNN-TCCB ngày của Tổng Giám đốc Agribank “Quy định về công tác đào tạo trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam”
  • 18 tháng 7: Trung tâm thẻ của Agribank được xây dựng thương hiệu.
  • Trong 5 2003: Agribank xây dựng hoàn chỉnh hệ thống thông tin khách hàng trên cơ sở dữ liệu Visionnaire. Agribank đã ký hợp đồng đại lý quản lý mang Tổ chức chuyển tiền nhanh Western Amalgame. Agribank ủng hộ Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” tổng số tiền 1.468 triệu đồng và dùng vào việc xây dựng 35 căn nhà nghĩa tình tại 9 tỉnh tặng những đối tượng chính sách.

2004:

  • 29 tháng 1: Tổ chức Trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên Dịch vụ Nhà băng Nông nghiệp Việt Nam được xây dựng thương hiệu theo Quyết định số 43/QĐ/GĐQT-TCCB.
  • Tháng 7: Agribank là nhà băng thương mại trước tiên ban hành cuốn sổ tay tín dụng, quy định những hệ thống chính sách trình tự động cho vay chặt chẽ theo thông lệ quốc tế.
  • Trong 5 2004: Agribank đã thành lập Ủy ban Quản lý tài sản nợ và tài sản có trực thuộc Hội đồng Quản trị.

2005:

  • Thẻ ghi nợ nội địa Success ra đời như 1 bước ngoặt trong việc cung cấp các dịch vụ tiện ích tới khách hàng.
  • Tổ chức thẻ quốc tế VISA đã tiến hành lắp ráp đặt thiết bị tương trợ chuẩn chi (VAP) tại Agribank, tạo tiện lợi cho quy trình tham dự thị trường thẻ quốc tế của Agribank.
  • Thành lập thêm Sở Quản lý và Buôn bán vốn và ngoại tệ.

2006: Tổ chức Cổ phần Bố̉o hiểm Ngân hàng Nông nghiệp được xây dựng thương hiệu.

2007:

  • Agribank ký kết hợp đồng đào tạo có giá trị 5 triệu Euro mang nguồn vốn do Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) tài trợ, nhằm tập trung đào tạo kỹ năng quản lý cho đội ngũ lãnh đạo chủ chốt trong toàn hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
  • Agribank mở Văn phòng đại diện tại Campuchia.

2008: Agribank hoàn thành xây dựng ascendant phân loại nợ tự động động trên hệ thống IPCAR, đáp ứng đề nghị của Quyết định 493/2005/NHNN và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN.

2009: Chủ tịch HĐQT Agribank đã ký Quyết định phê duyệt Đề án “Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam mở rộng và nâng cao hiệu quả đầu tư vốn cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến 5 2010 và định hướng đến 5 2020”. Theo đó, Agribank đặt mục tiêu giữ vững tỷ trọng cho vay nông nghiệp, nông dân, nông thôn chiếm 70% dư nợ vào 5 2020

2010:

  • 28 tháng 6: Chính thức khai trương chi nhánh tại Campuchia.
  • 16 tháng 7: Agribank đã có Quyết định số 881/QĐ-HĐQT-TDHo ngày về việc ban hành quy định thực hành Nghị định 41 về cho vay hộ gia đình chế tạo và những công ty vừa và bé trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Tổng dư nợ của khu vực này luôn trên mức 70% tổng dư nợ của toàn hệ thống.
  • Tháng 12: Agribank được Tổ chức thẻ Quốc tế MasterCard vinh danh tại lễ trao giải “MasterCard Salon of Fame 2010”. Agribank phát hành 2,Một triệu thẻ chỉ riêng trong 5 2010, nâng tổng số thẻ lên tới hơn 6,3 thẻ triệu,khẳng định vùng vị trí nhà băng số Một Việt Nam trong lĩnh vực tăng trưởng chủ thẻ.
  • Hội đồng Quản trị Agribank đã ra quyết định số 1269/QĐ-HĐQT ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Nhà băng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, được ngân hàng Nhà nước Việt Nam phê chuẩn tại Quyết định số 2339/QĐ-NHNN ngày 5/10/2010 thay đổi thế Điều lệ tổ chức và hoạt động của Nhà băng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam theo Quyết định số 117/QĐ/HĐQT-TCCB ngày 3/6/2002.
Chính thức khai trương chi nhánh Agribank tại Campuchia

2011:

  • 31 tháng 1: Quyết định số 214/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN chuyển đổi mô hình hoạt động của Agribank race mô hình Tổ chức Trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ.
  • Cuối 5 2011: Đầu tư cho “tam nông” của Agribank đạt mốc 300.000 tỷ đồng, dẫn đầu những tổ chức tín dụng trong việc cho vay thí điểm xây dựng nông thôn new.

2012:

  • 9 tháng 4: Tổ chức Quản lý nợ và khai thác tài sản được thành lập theo Quyết định số 635/QĐ-NHNN ngày của NHNN.
  • Đội ngũ cán bộ, viên chức của Agribank lên tới sắp 40.000 người, chiếm trên 40% cán bộ, viên chức ngành Nhà băng cả nước.
  • Agribank phát triển thành ngân hàng lớn nhất Việt Nam về mạng lưới hoạt động với gần 2.400 chi nhánh và phòng thanh toán trên toàn quốc, có chi nhánh tại Campuchia.
  • Thống đốc Nhà băng Nhà nước đã chỉ định Agribank là nhà băng chuyên dụng cho Khoản tài trợ bổ sung cho Dự án “Phòng chống dịch cúm gia cầm, cúm trên người và dự phòng đại dịch trên Việt Nam” mang tổng giá trị 23 triệu USD.

2014:

  • Tháng 10: Agribank phối hợp mang Hiệp hội Tín dụng Nông nghiệp Nông thôn Châu Á Thái Bình Dương (APRACA) tổ chức thành công hội thảo “Hệ thống cho vay nông nghiệp” mang sự tham dự của những đại biểu từ 12 quốc gia thành viên.
  • Agribank ký kết 36 hiệp định khuôn và biên bản ghi nhớ, 96 thỏa thuận mang những đối tác nước bên cạnh, đặc biệt nhà băng đã hoàn thành đàm phán ký kết thỏa thuận khuôn ISDA mang Nhà băng BNP Paribas.
  • Triển khai “Chương trình thi đua ABIC cùng Agribank chung tay xây dựng nông thôn new”.

2015:

  • Tháng 8: Agribank đã hoàn thành phần tiêu giảm nợ xấu về mức dưới 3% sớm hơn 4 tháng theo phê thông qua của NHNN và tiếp tục phấn đấu giảm nợ xấu về 1,89% tại thời điểm 31/12/2016.
  • Tháng 9: Agribank phát triển thành thành viên của Eurogiro – Liên minh giữa Nhà băng và Tổ chức Bưu điện tại những nước. Ra mắt hệ thống phát hành và tính sổ thẻ daphnie theo chuẩn EMV mang chủ đề “Khoa học kết nối tương lai”.

2016:

  • Agribank ký thỏa thuận mang Văn phòng điều phối Nông thôn new Trung ương về việc hợp tác trong xây dựng nông thôn new giai đoạn 2016-2020.
  • Agribank tiếp tục ký kết thỏa thuận liên ngành mang những hội: Hội Nông dân và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
  • Agribank nhận giải thưởng Sao Khuê 2016 cho 2 ứng dụng phần mềm xuất sắc trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng là Agribank E-Preste Banking và Hệ thống phát hành và tính sổ thẻ Puce theo chuẩn EMV.
  • Agribank “mở đường” tăng trưởng nông nghiệp sạch thông qua phân phối gói tín dụng tối thiểu 50.000 tỷ đồng nhằm đầu tư chuỗi chế tạo siêu phẩm nông nghiệp an toàn mang quy mô lớn.
  • Agribank là 1 trong 3 nhà băng có doanh số đấu thầu trái phiếu lớn nhất thị trường, được Bộ Tài chính tặng bằng khen đã có thành tích xuất sắc trong công tác huy động vốn cho Ngân sách Nhà nước thông qua phát hành Trái phiếu Chính phủ.
  • Agribank ký kết 104 biên bản ghi nhớ, thỏa thuận mang đối tác nước bên cạnh, trong ấy có 40 thỏa thuận chung, 13 thỏa thuận TTTM, 36 thỏa thuận phân phối siêu phẩm dịch vụ, 15 thỏa thuận chia sẻ chi phí.
  • Trong phạm vi Hội nghị Thượng đỉnh Thương mại và Đầu tư Trung Quốc-ASEAN, Agribank đã ký Biên bản ghi nhớ mang ICBC.

2017:

  • Tập trung đẩy mạnh việc triển khai dự án E-Banking để xây dựng nền móng dịch vụ đa kênh hoàn chỉnh, giúp khách hàng có thể dùng dịch vụ nhà băng trải qua kênh khác nhau, đặc biệt là Internet Banking và Preste Banking.
  • Thực hành Nghị quyết số 30/2017/NQ-CP của Chính phủ về gói tín dụng 100.000 tỷ đồng dành cho nông nghiệp sạch từ nguồn vốn vay thương mại, Agribank đã dành 50.000 tỷ đồng để thực hành chương trình, mang lãi suất cho vay giảm 0,5%-1,5%/5 so mang lãi suất ưu đãi cho vay đối mang lĩnh vực nông nghiệp nông thôn theo quy định hiện hành của NHNN và Agribank.
Tập trung đẩy mạnh việc triển khai dự án E-Banking
Tập trung đẩy mạnh việc triển khai dự án E-Banking

2018:

  • Tổng tài sản đạt sắp 1,3 triệu tỷ đồng, nguồn vốn huy đạt trên 1,2 triệu tỷ đồng, tổng dư nợ tín dụng và đầu tư đạt trên 1,Một triệu tỷ đồng, trong ấy dư nợ nông nghiệp, nông thôn chiếm 73,6%/tổng dư nợ và chiếm 51% thị phần tín dụng của ngành Nhà băng đầu tư lĩnh vực này.
  • Những giải thưởng: Huân chương Lao động hạng Nhất; Top 50 Công ty thành tựu theo bảng xếp hạng VNR500 (dẫn đầu những NHTM trong Bảng xếp hạng 500 công ty lớn nhất Việt Nam 5 2018, đứng thứ 7 trong số 500 công ty lớn nhất Việt Nam); Nhãn hiệu quốc gia 2018; Giải “Sao khuê 2018” mang Hệ thống/Phần mềm CNTT xuất sắc trong lĩnh vực tài chính nhà băng; “Chất lượng tính sổ xuất sắc 5 2018” do Nhà băng J.P.Morgan trao tặng; Top 3 nhà băng dẫn đầu thị trường thẻ; Được tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings nâng mức đánh giá xếp hạng tự động nguyện về Nhà phát hành nợ dài hạn từ mức “B+” lên “BB-” mang triển vọng “Ổn định”; Tạp chí The Banker bình chọn Agribank đứng thứ 465 trong Top 1.000 nhà băng lớn nhất thế giới và xếp thứ 2 quốc gia 5 2018…

2019:

  • Tổng tài sản đạt trên 1,45 triệu tỷ đồng; Nguồn vốn đạt trên 1,34 triệu tỷ đồng; Tổng dư nợ và đầu tư đạt trên 1,3 triệu tỷ đồng, trong ấy cho vay nền kinh tế đạt trên 1,12 triệu tỷ đồng. Dư nợ trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn luôn chiếm tỷ trọng trên 70%/tổng dư nợ.
  • 5 2019, Agribank tiếp tục được khẳng định là Quán quân những NHTM được vinh danh vùng vị trí thứ 8 trong Bảng xếp hạng VNR500; được tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody’s công bố mức xếp hạng của Agribank là Ba3, tương đương mức tín nhiệm quốc gia và là mức xếp hạng cao nhất đối mang những NHTM trên Việt Nam; Agribank được xếp hạng thứ 142/500 nhà băng lớn nhất Châu Á về quy mô tài sản; Giữ vững vị thế TOP 3 nhà băng thương mại dẫn đầu trên thị trường thẻ; Vinh dự đón nhận những giải thưởng: Nhà băng tương trợ đầu tư nông nghiệp khoa học cao tiêu biểu 5 2019, Nhà băng tiêu biểu vì cùng đồng 5 2019, Top 10 Nhà băng thương mại Việt Nam uy tín 5 2019, Top 20 công ty nộp thuế lớn nhất Việt Nam, 02 Giải thưởng Sao Khuê 2019 dành cho hạng phần hệ thống khoa học thông tin xuất sắc trong lĩnh vực nhà băng đối mang 02 siêu phẩm Hệ thống tính sổ Kiều hối tập trung (ARS) và Hệ thống tính sổ hóa đơn (Bill Payment), Giải thưởng nhãn hiệu Quốc gia (đối mang 05 siêu phẩm: Thẻ daphnie EMV, Agribank E-Preste Banking, AgriTax, Tính sổ biên mậu qua Internet Banking, Cho vay nông nghiệp).
Agribank được vinh danh vị trí thứ 8 trong Bảng xếp hạng VNR500
Agribank được vinh danh vùng vị trí thứ 8 trong Bảng xếp hạng VNR500

2020:

  • Tới 31/12/2020, tổng tài sản đạt trên 1,57 triệu tỷ đồng; nguồn vốn đạt trên 1,45 triệu tỷ đồng; tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt trên 1,21 triệu tỷ đồng, trong ấy sắp 70% dư nợ dành cho đầu tư tăng trưởng nông nghiệp, nông thôn.
  • 5 2020, Agribank tiếp tục được khẳng định là Quán quân những NHTM được vinh danh vùng vị trí thứ 8 trong Bảng xếp hạng VNR500; được tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody’s công bố mức xếp hạng của Agribank là Ba3, tương đương mức tín nhiệm quốc gia và là mức xếp hạng cao nhất đối mang những NHTM trên Việt Nam. Agribank đứng thứ 190 – xếp hạng cao nhất trong những nhà băng Việt Nam tại bảng xếp hạng Brand Rémunéré Banking 500. Agribank nhận giải thưởng Tỷ lệ điện tính sổ chuẩn xuất sắc 5 2019 do nhà băng The Bank of New York Mellon trao tặng. Agribank được nhận 03 giải thưởng do Asian banking & Rémunéré trao tặng (Nhà băng thực hành trách nhiệm xã hội và chương trình Xanh của 5 (giải nhì khu vực Châu á Thái bình dương); nhà băng có giải pháp ứng dụng tính sổ trên điện thoại hay nhất của 5 (phạm vi Việt nam); nhà băng bán lẻ nội địa phải chăng nhất 5 Việt Nam)
  • Agribank vinh dự đạt giải Top 10 Nhà băng thương mại Việt Nam uy tín 5 2020; TOP 3 Công ty nộp thuế lớn nhất Việt Nam 5 2019; Nhãn hiệu Quốc gia Việt Nam 2020. Agribank tiếp tục đạt giải thưởng Nhà băng vì cùng đồng 2020 vì những đóng góp hăng hái tương trợ cùng đồng qua những chương trình tín dụng chính sách, những hoạt động an sinh xã hội… Bên cạnh ra, nhà băng tự động động Agribank AutoBank CDM 24/7 cũng đã xuất sắc đạt giải thưởng Sao Khuê cho phần mềm/hệ thống xuất sắc nhất trong lĩnh vực Nhà băng – Tài chính 5 2020. Agribank được nhận bằng khen vì những phấn đấu trong kết nối, phân phối dịch vụ tính sổ trên Cổng dịch vụ công Quốc gia 5 2020. Agribank được tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý tại Đại hội Thi đua yêu nước ngành Nhà băng lần thứ VIII giai đoạn 2020 – 2025…

Brade Mar (Cập nhật 01/2022)

Lưu ý: Bài viết mang trong mình tính chất nghiên cứu cá nhân, ko đại diện cho bất cứ tổ chức nào.

Cong-viec-Marketing